“Màu Tím Hoa Sim” có thể xem là bài thơ nổi tiếng nhất trong âm nhạc, khi có rất nhiều bài hát được phổ từ bài thơ này. Nổi tiếng nhất là ca khúc Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà của nhạc sĩ Phạm Duy, Những Đồi Hoa Sim của nhạc sĩ Dzũng Chinh. Ngoài ra nhạc sĩ Duy Khánh và Song Ngọc cũng có phổ nhạc cho bài thơ này, nhưng ít được biết đến hơn. Nhạc sĩ Hồng Vân cũng dựa vào câu chuyện đồi sim của Hữu Loan để viết thành ca khúc Chuyện Người Con Gái Hái Sim. Sau năm 1975, nhạc sĩ Anh Bằng phổ thành ca khúc Chuyện Hoa Sim cũng rất được yêu thích với giọng hát Như Quỳnh.

Hoàn cảnh sáng tác của bài thơ nổi tiếng Màu Tím Hoa Sm được chính thi sĩ Hữu Loan kể lại trong một tự truyện của mình, xin được thuật lại trong bài dưới đây.

Thi sĩ Hữu Loan lúc ngoài 80 tuổi

Sau khi lấy tú tài Tây, vốn rất khó thi đậu vào năm 1938, thi sĩ Hữu Loan rời quê nhà để lên thị xã Thanh Hoá dạy học ở trường Alexandre de Rhodes do nhà thờ Công giáo ở Thanh Hóa lập.

Tại đây, nhờ tiếng con nhà nghèo hiếu học, ông được một gia đình nhà giàu mời về dạy học cho những người con trong nhà. Đó là gia đình của ông Lê Đỗ Kỳ – chánh thanh tra Đông Dương về canh nông, và bà Đái Thị Ngọc Chất – là người giỏi Hán ngữ lẫn Pháp ngữ, đam mê thơ phú, thường được gọi là bà Tham Kỳ.

Theo thi sĩ Hữu Loan kể lại, bà Chất là người hiền lành, tốt bụng, đối xử với ông chẳng khác người nhà. Gia đình ông bà Kỳ có 3 người trai đầu và 2 người con gái sau, trong đó có cô Lê Đỗ Thị Ninh lúc đó mới 8 tuổi, người mà 9 năm sau thời điểm đó đã trở thành vợ của Hữu Loan, cũng là nhân vật chính trong bài thơ Màu Tím Hoa Sim.

Hữu Loan kể lại ngày đầu gặp cô học trò nhỏ 8 tuổi như sau:

“Bà Tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái 8 tuổi mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ”Em chào thầy ạ!”. Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết.

Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt…”

Tính tình của cô Ninh ít nói, nhưng tư chất thông minh, dạy đâu hiểu đó, mỗi lần mở miệng là như một “bà cụ non”. Có một lần Hữu Loan kể chuyện đó cho 2 người anh của bà Ninh nghe, vì sự vô ý đó mà cô giận khi biết được. Suốt 1 tuần liền cô Ninh nằm lì trong phòng, không chịu học hành, trở bệnh nặng, nên bà Tham Kỳ phải dẫn ông Hữu Loan vào để dỗ dành cô gái. Ông ngồi kể chuyện, đọc thơ một hồi rất lâu. Trưa hôm đó cô dậy ăn một bát to cháo gà và chịu bước ra khỏi phòng.

Ngày hôm sau đó, cô Ninh đòi Hữu Loan dẫn lên đồi thông chơi. Mặc dù cả nhà đều không đồng ý vì cô mới bệnh dậy vẫn còn yếu, nhưng cô nhất quyết đòi đi. Sợ cô lại dỗi tiếp nên Hữu Loan xin phép cha mẹ cô dẫn lên núi chơi.

Khi lên đến đỉnh đồi, cô Ninh ngồi xuống, nói Hữu Loan ngồi xuống bên cạnh và hỏi: “Thầy có thích ăn sim không?” – Rồi cô đứng lên đi xuống sườn đồi, còn ông thầy Hữu Loan thì mệt quá nên nằm thiếp đi trên bãi cỏ. Khi tỉnh dậy ông đã thấy cô học trò nhỏ ngồi bên cạnh với chiếc nón đựng đầy trái sim màu đen, chín mọng.

Hữu Loan đã kể lại cảm giác khi đó của mình:

“Tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này đến quả khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!”

Cuối năm đó (năm 1939), Hữu Loan từ giã gia đình ông bà Lê Đỗ Kỳ để lên đường tham gia kháng chiến, từ giã cả cô học trò bé nhỏ chỉ mới gặp gỡ trong 1 năm. Đó là một buổi chia tay mang rất nhiều cảm xúc lưu luyến đối với cả người đi lẫn kẻ ở. Hữu Loan kể lại:

“Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng, em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi. Tôi quay đầu nhìn lại, em vẫn đứng yên đó. Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa”.

Vì tình hình chiến cuộc căng thẳng vào thời điểm đó, nên cuộc chia ly này phải kéo dài đến tận 9 năm. Trong thời gian đó, khi cô Ninh được 15 tuổi, ở quê nhà có nhiều chàng trai tới ngỏ lời cầu hôn những cô không chịu tiếp ai.

Một hôm có ông Nguyễn Đình Tiên là cậu họ của cô Ninh, cũng là cấp trên của Hữu Loan đã từ Thanh Hoá trở về đơn vị gặp Hữu Loan, trong lúc trò chuyện, ông Tiên nói: “Tao thấy con bé Ninh đem va ly quần áo của mày ra phơi và chải đấy”.

Hữu Loan ngồi im lặng. Nguyễn Đình Tiên nói thêm: “Hình như chị Kỳ muốn gả nó cho mày”.

Hữu Loan gạt đi: “Nó còn nhỏ quá, tao coi nó như em gái mình, lấy làm sao được mà lấy”.

Nguyễn Đình Tiên nói át đi: “Mày lạc hậu lắm. Chị Kỳ dành cho mày mà mày lại không nhận là mày bạc lắm”.

Hữu Loan vẫn phân vân. Nguyễn Đình Tiên bồi thêm: “Thôi được rồi để tao thu xếp cho”.

Sau này, khi sáng tác Màu Tím Hoa Sim, Hữu Loan đã nhắc tới “tình yêu em gái” ở đoạn đầu của bài thơ:

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh…

Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái…

Đoạn này cũng nhắc tới ba người anh đi bộ đội của cô Ninh, trong đó người anh cả tên là Lê Hữu Khôi, tham gia kháng chiến và hy sinh năm 1954 chỉ vài giờ trước chiến thắng Điện Biên Phủ. Người anh thứ 2 tên Lê Đỗ Nguyên, hiện nay là Trung tướng Phạm Hồng Cư – nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam. Người anh thứ 3 tên Lê Đỗ An, sau này lấy bí danh là Nguyễn Tiên Phong, nguyên là bí thư trung ương đoàn, nay đã mất. Vì những người anh này đều tham gia hoạt động kháng chiến nên chọn cho mình các bí danh.

Những em nàng, có em chưa biết nói – Đó là người em út trong nhà, sau cô Ninh, tên là Lê Thị Như Ý, sau này là giáo viên về hưu ở Hà Nội.

Năm 1948, tròn 9 năm sau khi xa cách, Hữu Loan mới xin được phép để về thăm lại gia đình cô Ninh. Họ gặp lại nhau khi cô Ninh đã là một thiếu nữ 17 tuổi xinh đẹp, bẽn lẽn thẹn thùng không nói gì, chỉ lắc đầu hoặc gật đầu.

Cho dù yêu nhau nhưng Hữu Loan lo sợ việc môn đăng hộ đối nên vẫn còn phân vân, ông không biết rằng việc hôn nhân đã được chính ông bà Lê Đỗ Kỳ sắp xếp. Chỉ 1 tuần sau khi về phép, Hữu Loan thành hôn với cô Lê Đỗ Thị Ninh. Ông bàn chuyện may áo cưới thì cô không chịu, bảo rằng không cần hình thức mà chỉ cần cái tâm và cái tình. Vì vậy trong bài thơ Màu Tím Hoa Sim, thi sĩ Hữu Loan đã viết:

Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo…

Hữu Loan cho biết rằng cô Ninh thường gọi đùa ông là “anh chồng độc đáo” vì ông cao ráo, học giỏi, làm thơ hay…

Cho dù gia đình ông bà Lê Đỗ Kỳ rất giàu, có hàng trăm mẫu ruộng, nhưng đám cưới người con gái diễn ra rất đơn sơ, đúng như mô tả của Hữu Loan trong thơ. Đó là ông không mặc áo cưới mà mặc đồ quân nhân với đôi giày đinh còn bết bùn đất.

Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại

Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về

thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…

Hai tuần phép diễn ra rất nhanh, cưới nhau không bao lâu thì Hữu Loan lại lên đường ra chiến khu làm nhiệm vụ, để lại người vợ bé bỏng ở quê nhà. Ông Hữu Loan kể:

“Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại. Nếu như 9 năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác, thì lần này tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống”…

Nhưng không ᴄhết
người trai khói lửa
Mà ᴄhết
người gái nhỏ hậu phương…

Nhưng số phận trớ trêu, người chồng ở nơi đầu tuyến vẫn bình an, chỉ có người vợ nhỏ hậu phương thì qua đời chỉ 3 tháng sau ngày tạm biệt nhau. Đó là một ngày đầu thu, tháng 7 năm 1948, cô Ninh bị tai tạn ngoài sông, rồi nước cuốn trôi đi người vợ hiền nhỏ bé của thi sĩ Hữu Loan…

Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối

Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim

Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…

Không thể nào kể xiết nỗi đau đớn mà thi sĩ Hữu Loan phải chịu đựng khi mất khi người vợ trẻ. Ông như mất đi tất cả, chán đời, chán nản và bỏ cả kháng chiến để về quê làm ruộng. Trước khi rời chiến khu, trong nỗi đau đớn tận cùng, ông viết liền một mạch bài thơ Màu Tím Hoa Sim lên chiếc quạt giấy của người bạn. Người bạn đó đã chép lại thơ và truyền tay nhau suốt những năm kháng chiến, gây xúc động mạnh với những chiến sĩ trong hàng ngũ Việt Minh.

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng…

Chi tiết ba người anh nhận được tin em gái mất trước khi biết tin em lấy chồng hoàn toàn là sự thật. Người anh thứ 2 kể lại như sau:

“Năm 1949 tôi được điều về làm ở phòng chính trị Cục quân huấn của Cục Chính trị Bộ quốc phòng, trong một lần đi họp có gặp anh Võ Trí Sơn, bạn thân của anh Hữu Loan, đồng thời cũng là người bạn của gia đình chúng tôi.

Anh Sơn bảo: “Em Ninh ᴄhết rồi, em ᴄhết đuối”. Tôi choáng váng. Anh Sơn bảo tiếp: “Nó lấy Hữu Loan đấy”. Lúc bấy giờ tôi mới biết em Ninh đã lấy nhà thơ Hữu Loan”.

Bài thơ như là một phần đời của thi sĩ Hữu Loan, phần đời đẹp và buồn nhất, nên bài thơ được ông viết rất thật, mộc mạc, không gọt giũa hay văn chương, nhưng có sức lay động lòng người tột cùng và có sức sống mãnh liệt trong hơn 70 năm qua…

Đoạn cuối của bài thơ là:

Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết

Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu

Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết

Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…

Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành…

Nghe lại các bài hát được phổ từ bài thơ này:


Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà (Phạm Duy) – Thái Thanh


Những Đồi Hoa Sim (Dzũng Chinh) – Phương Dung


Màu Tím Hoa Sim (Song Ngọc) – Minh Hiếu


Màu Tím Hoa Sim (Duy Khánh & Trọng Khương) – Duy Khánh hát, Hồng Vân ngâm thơ


Màu Tím Hoa Sim (Duy Khánh & Trọng Khương) – Hoàng Oanh hát và ngâm thơ


Chuyện Hoa Sim (Anh Bằng) – Như Quỳnh

Bài viết dựa theo lời kể của thi sĩ Hữu Loan trong bài Tự Thuật – nhacvangbolero.com

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here